Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM vừa tổ chức Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ KH&CN "Xây dựng cơ sở dữ liệu về sử dụng hiệu quả tài nguyên và sản xuất sạch hơn trong khu chế xuất, khu công nghiệp để hỗ trợ và kết nối doanh nghiệp thực hiện hoạt động cộng sinh công nghiệp".
Nhiệm vụ do Trường Đại học Văn Lang chủ trì thực hiện, PGS.TS. Lê Thị Kim Oanh làm chủ nhiệm; được triển khai với mục tiêu xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) về các giải pháp sử dụng hiệu quả tài nguyên và sản xuất sạch hơn, xây dựng CSDL về ngành nghề và chất thải phát sinh của các doanh nghiệp trong khu chế xuất (KCX), khu công nghiệp (KCN) để hỗ trợ các doanh nghiệp thực hiện hoạt động cộng sinh công nghiệp.
Theo nhóm nghiên cứu, TP.HCM hiện có 17 KCX và KCN, với tổng diện tích khoảng 3.800 ha, thu hút hơn 5.800 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký trên 76 tỷ USD và hơn 520.000 lao động. Trong bối cảnh Thành phố đang thúc đẩy chuyển đổi mô hình phát triển công nghiệp theo hướng xanh, tuần hoàn và phát thải thấp, nhiều KCN đang được định hướng chuyển đổi sang mô hình công nghệ cao, logistics, hạ tầng xanh và KCN sinh thái.

PGS.TS. Lê Thị Kim Oanh, đại diện nhóm nghiên cứu, trình bày báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ
Tuy nhiên, cùng với tốc độ phát triển công nghiệp, áp lực về tiêu thụ nguyên liệu, năng lượng, nước và xử lý chất thải ngày càng gia tăng. Thực tế cho thấy, dù nhiều doanh nghiệp đã áp dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn, tiết kiệm năng lượng và tái chế chất thải, song việc quản lý dữ liệu về tài nguyên và dòng thải hiện vẫn còn phân tán, thiếu chuẩn hóa và chưa có nền tảng chia sẻ chung giữa doanh nghiệp với cơ quan quản lý. Điều này làm hạn chế khả năng nhận diện cơ hội hợp tác, tái sử dụng chất thải và triển khai các mô hình cộng sinh công nghiệp (nơi chất thải hoặc phụ phẩm của nhà máy này có thể trở thành tài nguyên đầu vào của nhà máy khác).
Trong khi đó, các xu hướng kinh tế tuần hoàn, sản xuất sạch hơn và cộng sinh công nghiệp đã được chứng minh hiệu quả tại nhiều quốc gia trong việc giảm tiêu thụ tài nguyên sơ cấp, giảm phát thải và nâng cao giá trị kinh tế từ chất thải thông qua tái sử dụng, tái chế. Tại Việt Nam, các định hướng này đã được đề cập trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Nghị định 82/2018/NĐ-CP về khu công nghiệp sinh thái và chiến lược tăng trưởng xanh.
Xây dựng nền tảng dữ liệu số phục vụ cộng sinh công nghiệp
Nhóm nghiên cứu đã thực hiện thu thập dữ liệu từ 424 doanh nghiệp và khảo sát chuyên sâu tại 30 cơ sở sản xuất thuộc KCN Hiệp Phước và KCN Lê Minh Xuân. Các dữ liệu khảo sát tập trung vào hiện trạng sử dụng nguyên vật liệu, hóa chất, điện năng, nước; hiện trạng phát sinh chất thải rắn, nước thải, bùn thải; cũng như các giải pháp tiết kiệm tài nguyên, tái chế và tái sử dụng chất thải đang được doanh nghiệp áp dụng.
Qua khảo sát cho thấy, cơ cấu ngành nghề trong KCX-KCN TP.HCM hiện tập trung chủ yếu vào các nhóm ngành cơ khí, điện - điện tử; dệt may - da giày; hóa dược - cao su - nhựa; vật liệu xây dựng - giấy - gỗ; và chế biến lương thực thực phẩm. Mỗi KCN đã hình thành những cụm ngành nghề đặc thù, song liên kết nội vùng giữa doanh nghiệp vẫn còn hạn chế, đặc biệt trong việc chia sẻ tài nguyên, năng lượng và tái sử dụng chất thải. Đây được xem là khoảng trống lớn nhưng cũng là tiềm năng quan trọng để phát triển cộng sinh công nghiệp trong thời gian tới.

Một trong những kết quả nổi bật của đề tài là xây dựng thành công CSDL về sử dụng tài nguyên và chất thải trong KCX-KCN TP.HCM. Hệ thống dữ liệu bao gồm thông tin về nguyên vật liệu, hóa chất, năng lượng, nước, chất thải rắn công nghiệp và các giải pháp sản xuất sạch hơn tại doanh nghiệp. Trên cơ sở này, nhóm đã phát triển nền tảng quản lý và chia sẻ dữ liệu với ba module chính gồm: lưu trữ và xử lý dữ liệu; chia sẻ dữ liệu; và trực quan hóa dữ liệu bằng biểu đồ, bảng thống kê. Nền tảng cho phép doanh nghiệp cập nhật thông tin môi trường, truy xuất dữ liệu, chia sẻ kinh nghiệm sản xuất sạch hơn, hỗ trợ xuất các báo cáo môi trường chuẩn hóa một cách nhanh chóng và kết nối các cơ hội cộng sinh công nghiệp giữa các đơn vị trong cùng hệ thống.
Theo nhóm nghiên cứu, nền tảng số được thiết kế như một hệ thống trung gian tích hợp, nhằm hỗ trợ các bên liên quan trong việc thu thập, phân tích, quản lý và trực quan hoá dữ liệu liên quan đến môi trường và sản xuất sạch hơn. Với tính năng chia sẻ và kết nối cộng sinh, hệ thống cho phép tự động quét, đối chiếu và gợi ý các cơ hội kết nối thực hiện cộng sinh công nghiệp, kết nối, chia sẻ dữ liệu và kinh nghiệm thực hành sản xuất sạch hơn, đáp ứng yêu cầu của các bên liên quan như Ban Quản lý các Khu chế xuất và công nghiệp TP.HCM (HEPZA), các đơn vị hạ tầng KCN-KCX và cộng đồng doanh nghiệp.
Hướng đến công nghiệp xanh và kinh tế tuần hoàn
Với nhiệm vụ này, nhóm nghiên cứu xây dựng cách tiếp cận tổng hợp dựa trên dữ liệu thực tế để phân tích, đánh giá hiện trạng sử dụng tài nguyên và quản lý chất thải tại các KCX và KCN TP.HCM, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và thúc đẩy cộng sinh công nghiệp theo định hướng kinh tế tuần hoàn.
Các giải pháp đề xuất gồm hai nhóm: quản lý tài nguyên và tối ưu hóa sử dụng tài nguyên; quản lý chất thải và thúc đẩy cộng sinh công nghiệp. Về quản lý tài nguyên, các giải pháp đề xuất tập trung vào tăng cường ứng dụng số hóa và tự động hóa, tối ưu hóa chuỗi cung ứng, tái sử dụng và tái chế tại chỗ… Trong đó, việc ứng dụng công nghệ số hóa, tự động hóa như cảm biến IoT, hệ thống điều khiển và phần mềm quản lý tích hợp ERP, MES, SCADA được đề xuất nhằm giám sát và tối ưu hóa sử dụng nguyên vật liệu, năng lượng, nước và hóa chất; có thể giúp giảm tiêu hao tài nguyên ở mức 10 - 15%.
Về giải pháp quản lý chất thải và thúc đẩy cộng sinh công nghiệp, nhóm nghiên cứu đề xuất mô hình quản lý chất thải theo chuỗi khép kín gồm: phân loại và lưu trữ tại nguồn; thu gom và tiền xử lý tập trung; thu hồi vật liệu và năng lượng; kết nối cộng sinh công nghiệp. Trong đó, để tăng cường hiệu quả cộng sinh công nghiệp, nhóm nghiên cứu đề xuất khung phát triển mạng lưới cộng sinh dựa trên dữ liệu dòng vật chất, bao gồm quy trình nhận diện, ghép cặp và triển khai các cơ hội trao đổi tài nguyên giữa doanh nghiệp. Các dòng vật chất có tiềm năng cao như bao bì, kim loại, nhựa kỹ thuật và phụ phẩm hữu cơ được định lượng và đề xuất các mô hình trao đổi cụ thể.

Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ được Sở KH&CN TP.HCM tổ chức ngày 19/5/2026

Theo nhóm nghiên cứu, sản phẩm chính của đề tài gồm cơ sở dữ liệu (về sử dụng tài nguyên và về chất thải rắn) và phần mềm quản lý, chia sẻ dữ liệu có khả năng ứng dụng thực tế trong công tác quản lý môi trường công nghiệp, hỗ trợ nhận diện cơ hội hợp tác cộng sinh công nghiệp, tối ưu hóa tài nguyên và nâng cao hiệu quả sản xuất.
Kết quả đề tài được đánh giá có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao, cung cấp nền tảng dữ liệu phục vụ hoạch định chính sách, hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi xanh và từng bước hình thành hệ sinh thái cộng sinh công nghiệp tại TP.HCM. Việc triển khai xây dựng nền tảng chia sẻ dữ liệu này không chỉ là công cụ kỹ thuật mà còn là bước đi cụ thể góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải và xúc tiến thu hút đầu tư xanh của TP.HCM.
Lam Vân
Nguồn: https://cesti.gov.vn/bai-viet/CTDS5/tphcm-nghien-cuu-so-hoa-du-lieu-tai-nguyen-va-dong-thai-thuc-day-cong-sinh-cong-nghiep-2874b98d-8ef0-4aca-9a33-3ce2d3da2c6d